Logo of Phú Thọ Logo of Phú Thọ

Mưa, LyTôn và nỗi nhớ

Chủ nhật, 12/05/2019, 05:52:07
Print + | - Font Size: A

PTĐT - Trời đen kịt. Mặt đất như bị một cái vung to úp kín khiến cho không gian giữa chiều mà ngỡ như đã xẩm tối. Những tia chớp xanh lè chốc chốc lại lóe lên, chạy loằng ngoằng trên cái màn đen ấy. Loáng một cái mưa đã đan dầy. Trời đất như chìm trong mớ âm thanh hỗn độn, ràn rạt, u u, ùng ục, gầm gào. 

Mãi một lúc lâu sau mớ hỗn độn ấy mới trở lại êm dầm như có người sai bảo. 

Không gian trong phòng đầy bụi nước, âm ẩm, mát rượi. Chúng làm mềm cả không khí, khiến cho da người chùng lại. Tôi ngả người trên manh chiếu, nhìn qua cửa sổ ngắm trời, tận hưởng cái mát mẻ của mưa để bù đắp cho những ngày gió Lào hừng hực. Và bao giờ cũng vậy, những lúc trời đất thế này tôi lại nhớ đến em…

Ngày ấy, cuối mùa khô, cung đường 14B đoạn qua ngầm Ly Tôn trên đường Trường Sơn hố bom chi chít. Đơn vị của em ngày đêm bám đường, giữ vững mạch máu giao thông cho những chuyến xe chở hàng vào mặt trận. Máy bay Mỹ thường xuyên rải chất da cam làm trụi lá rừng và trút bom xuống những đoạn đường cán xong hòng chặn những đoàn xe của chúng tôi. Đơn vị em phải trần lưng ra, khi thì phá bom nổ chậm, khi thì lấp hố bom, khi thì mở đường nhánh.

Trong lúc chờ thông đường, em kể làng em ở ven con sông Bứa hiền lành, có nhiều đồi chè chạy dài bát ngát. Ở Trường Sơn bao la này, sự có mặt của những người con gái là một đặc ân của đất trời ban cho cánh con trai, huống chi em lại là đồng hương. Tôi ngắm em, khao khát như cánh đồng khô hạn lâu ngày, giờ mới được dòng nước mát rượi tràn đến, tưới đẫm. 

Em còn trẻ lắm, chắc chưa qua tuổi mười bẩy. Bạn bè gọi em là Mai, một cái tên chỉ nghe cũng hình dung ra là người con gái đẹp. Da mặt em mịn màng như còn nguyên lớp phấn mầu con gái của tuổi dậy thì. Mái tóc dầy đen như mun, búi thành búi sau gáy, để lộ cái cổ trắng hồng. Ngực em nhô cao, luôn phập phồng mỗi khi bổ những nhát cuốc. Bụi đất thấm mồ hôi khiến em như một nông dân cầy dưới trời nhễ nhại nắng lửa. Phía xa xa, vẫn tiếng phản lực gầm rít. Những tiếng nổ liên hồi của bom B52 gầm gừ dội lại.

Công việc thường nhật của em đầy gian lao vất vả, không phải chỉ đổ mồ hôi mà còn cả máu nữa. Máu đến từ những quả bom Mỹ nặng hàng nghìn pao làm chết hàng chục mạng người, những quả bom bi hay trái mìn cóc chỉ to bằng nắm tay nhưng dư sức lấy đi một sinh linh bé nhỏ tràn đầy nhựa sống. 

Thương em, lòng tôi trào lên sự lo lắng và cảm phục vô bờ. Chiến tranh đã đẩy em vào đây, gội bom, tắm đạn, thở hít cái chất diệt cỏ kinh hoàng, giữ yên những cung đường để chúng tôi qua. 

Xong việc, tôi lục tìm trong ca bin mấy phong lương khô dự trữ mời các em. 

Em nhấm nháp thanh lương khô tôi mời và đứng làm hoa tiêu cho xe tôi vượt qua mép hố bom vừa được lấp vội. Tôi rú ga và không quên gửi lại em một nụ hôn gió, nụ hôn mà trai gái trên con đường Trường Sơn huyền thoại này thường trao gửi cho nhau để vừa thay động tác làm quen, vừa thay lời tạm biệt.

Nửa tháng sau, xe tôi đưa gần một tiểu đội thương binh quay ra Bắc. Lúc này đã vào mùa mưa. Ngầm Ly Tôn đầy ứ nước. Xe đành chui vào rừng nằm chờ. Tôi căng tăng mắc võng nằm dưới tán rừng, giữa trời đêm mịt mù mưa gió, ao ước mai được gặp lại em. Mưa đêm ở Ly Tôn khiến tôi càng đơn độc hơn. Cảm giác thèm có người tâm sự lại bùng lên dữ dội. Tôi nằm cuộn tròn trong võng. Mưa lạnh và nỗi nhớ em làm tôi thao thức không sao ngủ nổi, thấp thỏm không biết mưa lớn thế này em có bị ướt không?

Sáng sớm. Mưa vẫn đan dầy trên những cánh rừng trụi lá. Hồ Vinh, một thanh niên Vân Kiều đi qua, bảo còn phải mưa vài ngày nữa mới tạnh. Tôi đội mưa lò dò theo anh tìm vào nơi em ở. Đó là một cái lán dã chiến, lợp bằng cỏ gianh, nằm khuất sau quả núi nhỏ. Phía dưới là con suối chảy về sông Ly Tôn. Có tiếng la to “Không được vào đâu”. Tôi ngập ngừng dừng lại.

Lát sau em ra, quần áo nồng mùi khói. Mặt em đỏ lựng, bối rối. Thì ra mưa liên miên, quần áo ướt và thiếu, các em phải ở trần, đốt lửa hong mới có cái mặc. Không tiện đưa vào lán, em mời chúng tôi ngồi trong cái hang đá bên lối mòn. 

Em kể, tiểu đội đã mấy ngày nay chỉ đủ gạo nấu cháo loãng. Các em phải chia nhau đi sâu vào rừng hái rau, tìm củ. Có mấy cây búng báng ở tít cánh rừng xa, cách cả trái núi để dành, thỉnh thoảng mới ngả một cây ăn độn, bây giờ cũng đã hết. Gần suối mà không dám tắm, bởi lá cây ngấm chất da cam Mỹ rụng đầy lòng suối. Tắm nước đó có mà ngứa như xát lá han. Các em phải leo lên lưng chừng núi gùi nước mạch về dùng. Con trai còn gan lỳ chứ con gái thì nhớ nhà lắm. Mỗi lần nhận được thư, buồn khóc đã đành, vui cũng rưng rức. Tết năm vừa rồi, cả tiểu đội nước mắt lưng tròng từ mùng một đến chiều mùng hai. Đại đội trưởng xuống thăm không sao dỗ được, đành phải báo động di chuyển, các em mới chịu nín.

Ngoài trời mưa chẳng ngớt cho, vẫn cứ ràn rạt. Chúng tôi bó gối nhìn trời. Thương các em mà chẳng biết làm gì. Hồ Vinh im lặng, còn tôi ngậm ngùi chia sẻ với em qua ánh mắt bối rối.

Thế rồi tôi lên cơn sốt rét thật. Liều thuốc phòng không đủ cản cơn sốt định kỳ ập đến. Ngoài ngầm Ly Tôn, thương binh đang cần chăm sóc. Cả tiểu đội em đành đội mưa đưa thương binh về lán, đun nước rửa vết thương cho anh em. Nồi nước lá rừng tỏa ra mùi khuynh diệp. Em bảo đây là thuốc của Hồ Vinh, sát trùng tốt lắm. 

Hồ Vinh tỏ ra khéo léo. Anh băng bó cho thương binh không kém gì y tá thực thụ. Tôi nằm co ro ở góc lán nhìn các em xăng xái chăm sóc thương binh mà ái ngại. Trời mưa thế này, gạo hết, quần áo ướt cả, lại còn gánh việc lo toan ăn ở cho chúng tôi, các em biết sống thế nào?

Chợt có tiếng lao xao. Thì ra nghe Hồ Vinh báo có thương binh ngoài lán, thế là đồng bào Vân Kiều trong buôn kéo đến, người mang cho nắm rau, người cho lon gạo, gốc mỳ, trái bắp, người cho con gà, con cá. Chúng tôi ai cũng rưng rưng xúc động. Chiến tranh và bom đạn làm đồng bào đói khổ lắm, nhưng tấm lòng thương yêu cách mạng của người dân Vân Kiều thì không gì so sánh được.

Sáng hôm sau, Hồ Vinh đưa em vào rừng lấy lá thuốc. Tôi như có linh tính điều gì, cứ thấp thỏm không yên. Quả là thế thật. Gần trưa, Hồ Vinh cõng em về. Em dẫm phải mìn. Một trái mìn lá mỏng tang trong vô số những trái mìn của Mỹ thả xuống rừng Trường Sơn đã cướp đi bàn chân trái của em. Chúng tôi đau đớn nhìn em mặt trắng bệch vì mất nhiều  máu, rã rượi, lả đi trong cánh tay Hồ Vinh. Chị em trong tiểu đội khóc rưng rức vì thương em. Đại đội thì ở xa, ngầm Ly Tôn mùa mưa nước lên to không sao tiếp viện được. Tất cả lại phải nhờ đồng bào trong buôn Hồ Vinh giúp đỡ.
 
Rồi cũng ngớt mưa, xe tôi vượt ngầm đưa thương binh về binh trạm phía Bắc. Chia tay các em, tôi nắm bàn tay mềm và nhỏ, bối rối nhìn ống quần bên trái của em lụng thụng mà dạt dào thương cảm...

Giải phóng miền Nam, tôi quay lại Ly Tôn tìm em. Đơn vị em đã vượt Trường Sơn vào Miền Đông Nam Bộ gửi em ở lại bệnh xá dã chiến Bắc Tây Nguyên điều trị. Hồ Vinh lại đưa tôi đến thăm em. Nhìn cách Hồ Vinh quan tâm đến em, tôi biết giữa hai người đã có những tình cảm sâu nặng. Em bảo đất nước của mình, đâu cũng là quê hương. Tất cả đều là đất ông cha mình cả. Tôi mừng cho em, nhưng trong lòng có những nỗi buồn vô cớ.

Tôi lang thang trong buôn Vân Kiều của Hồ Vinh trước khi về quê mẹ. Ngầm Ly Tôn đã để lại trong tôi biết bao nhung nhớ. Chúng tôi đã gắn bó với rẻo đất Trường Sơn này không chỉ bằng bom đạn, bằng chất da cam Mỹ, bằng cái đói, cái khổ của những ngày đi đánh Mỹ mà cao hơn cả là bằng tình quân dân, tình đồng đội. Những cây cà phê trong vườn đồng bào Vân Kiều mùa này quả trĩu nặng, cành cà phê lả xuống, nhưng lòng tôi còn trĩu nặng hơn. Tôi chẳng còn hy vọng được gắn bó với em nữa. Hồ Vinh và mảnh đất Ly Tôn này đã giữ em ở lại. Ngoài kia mưa vẫn rì rầm không ngớt và trong tôi trào dâng nỗi nhớ Ly Tôn và đau đáu nỗi nhớ em da diết...

Truyện ngắn: Vũ Quốc Khánh

Ý kiến bạn đọc ( 0 )
Bình luận bài viết
CAPTCHA Image security
TIN LIÊN QUAN
rss - Trở về đầu trang